Tác giả: Thương Nguyệt

Chương 7: Tử trúc

TrướcTiếp
Tháng ba ở Lâm An, tiết trời ấm lên nhưng còn vương hơi lạnh. Đêm ngả khuya, trên đường lạnh lẽo, thi thoảng mới có phu canh đi qua hô vang, tiếng hô kéo dài vọng vào trong từng con ngõ: “Cẩn thận củi lửa”. Hô dứt một câu đã đi rất xa.

Trong một tòa phủ sân sâu lầu cao, màn là trướng lụa lặng lẽ rủ xuống chiếc giường bằng gỗ tử đàn. Hình như cửa sổ không khép chặt, gió lùa vào khiến mấy móc câu vàng treo trên đầu giường khẽ lay động.

“Ối! Ối!” Giữa đống gấm vóc, đột nhiên thò ra đôi tay xanh xao, cào loạn xạ trên không, tiếng xuyến vàng va nhau leng keng, hòa cùng tiếng thở đứt quãng: “Đừng lại gần, đừng lại gần ta”.

“Sao vậy? Nhị phu nhân sao vậy?” Bên ngoài sảnh, ma ma nghe thấy động tĩnh, không kịp khoác áo, lật đật chạy ngay vào, thấy nữ tử ngồi thẳng dậy, mắt còn nhắm nhưng sắc mặt nhợt nhạt, hai tay cào loạn phía trước, bèn vội vàng giữ nàng ta lại, lên tiếng gọi: “Nhị phu nhân”.

“Lại mơ thấy ác mộng chăng?” Không biết bao lâu sau, thấy phu nhân định thần lại, từ từ mở mắt, ma ma mới thở phào hỏi.

Nữ tử được gọi là nhị phu nhân chừng hơn ba mươi tuổi, vừa tỉnh khỏi cơn mộng, thở mệt nhọc trong bóng đêm, rút tay về chặn lên lồng ngực, cảm giác tim đập dồn dập: “Lý ma ma, mau lấy cho ta một bát toan mai thang... ta khát quá”.

Lý ma ma ra gian ngoài, vừa mày mò tìm kiếm vừa thở dài: “Nhị phu nhân, mấy tháng nay phu nhân hay gặp ác mộng, tôi đi mời đại phu đến khám?”

“Để làm gì! Một năm nay tiền mời đại phu còn chưa đủ sao? Trị thế nào cũng không thể yên giấc”. Giọng phu nhân vang lên mệt mỏi trong màn gấm: “Cũng vì lão phu nhân lão nhân gia không nói gì, người bên tây viện tưởng ta làm nũng”.

“Quân mỏ nhọn ấy, nhị phu nhân hà tất để ý? Sao không xem xem danh tiếng của Bách hoa Tằng gia chúng ta được như hôm nay, nhị phu nhân phải vất vả thế nào? Lão phu nhân cũng nói, trong các con dâu cháu dâu, chỉ có nhị phu nhân đáng tính là một nam tử... vị bên tây viện bất quá chỉ là tiểu thiếp, luận về lớn nhỏ, sánh sao được với phu nhân”. Ngoài bình phong vang lên tiếng đồ sứ va nhau lanh canh, Lý ma ma chật vật mới mò thấy chỗ toan mai thang còn lại từ ban ngày, rót nửa bát, vừa bê vào vừa mắng: “Nhị phu nhân cả nể quá, tính tình cũng chịu nín nhịn, đổi lại là tôi quyết không thể nhịn được. Tam phu nhân bên tây viện trừ tiêu tiền, có bao giờ ra sức vì Tằng gia?”

“Ra sức? Người ta dù gì cũng sinh được con trai... ta có gì?” Nhị phu nhân nhắm mắt, mệt mỏi tựa vào thành giường, gỗ tử đàn chạm vào lưng nàng đau nhói, buồn bã cất tiếng: “Bách hoa Tằng gia sau khi xuôi nam nhờ nghề trồng hoa mà được như bây giờ, dù không phải toàn bộ nhưng Đàm Ý Nương ta cũng có đến một nửa công lao, dù vậy thì đáng kể chi? Nói thế nào ta cũng chỉ là nhị phòng tục huyền, rổ rá cạp lại với nhị gia của các ngươi, lại không có con cái gì...”

“Lão phu nhân yêu mến nhị phu nhân, phu nhân sợ gì mấy lời xiên xỏ”. Thấy nhị phu nhân thường ngày vẫn nhanh nhẹn hoạt bát buông ra những lời chán nản, Lý ma ma vội an ủi, lần theo bóng đêm đưa toan mai thang vào tay nàng.

Nhị phu nhân hớp một ngụm, ngậm trong miệng hồi lâu với uống, giọng nói trầm trầm đượm chua chát lại cất lên: “Lão phu nhân? Lão phu nhân cao tuổi rồi, không thể dựa vào mãi... ngươi thấy nhị gia bao lâu rồi chưa đến đây? Tam phu nhân không sinh được trưởng tử nhưng cả nhà đại gia đã chết, còn lại một mình Viễn Ca điên điên khùng khùng, gia nghiệp Tằng gia sớm muộn gì cũng vào tay nhị thiếu gia. Đến lúc đó, vị ở tây viện mới càng đắc ý”.

Lý ma ma thở dài không nói gì, kỳ thật bà ta vẫn lo lắng chuyện này, nếu tương lai lão phu nhân không còn, nhị thiếu gia Viễn Kiều lên làm chủ, chỉ sợ đông viện nhị phu nhân khó sống yên ổn.

“Oi bức quá... mưa chăng?” Trầm mặc hồi lâu, cảm giác bầu không khí trong phòng ngưng trệ, nhị phu nhân lẩm nhẩm, theo ý thức lần tìm quạt.

Ngón tay lướt qua nệm gấm, tìm thấy một vật lạnh cứng dưới gối - là quạt nan.

Nhị phu nhân chợt ngây người, cầm chiếc quạt để dưới gối lên, nhiều năm rồi cây quạt nan bằng tử trúc này không còn mang lại cảm giác mát lạnh như ngọc nữa, ban ngày hôm nay nàng mới thay chiếc nan bị hỏng.

Nàng ngồi hồi lâu như đang nghĩ ngợi, chợt Lý ma ma lên tiếng: “A, đúng rồi, hôm nay tôi nghe nha đầu Thược Dược Nhi chỗ lão phu nhân cho biết Bạch Loa cô nương mà lão phu nhân vốn muốn đính hôn với nhị thiếu gia, đột nhiên đổi ý, sống chết cũng muốn lấy Viễn Ca đại thiếu gia, lão phu nhân yêu mến Bạch cô nương nên cũng đáp ứng. Bên tây viện mất mặt lắm”.

Đang đêm, bà ta nói nhỏ nhưng ngữ khí đượm vẻ vui mừng trước tai họa của người khác: “Hỗn thế ma vương nhị thiếu gia tự nhiên không muốn thành thân lắm nhưng vị bên tây viện nổi giận cực độ, cả ngày mắng chửi, đập phá”.

“A... Bạch Loa cô nương?” Ánh mắt nhị phu nhân chợt sáng lên, hít sâu một hơi: “Có phải vị cô nương mở một cửa hiệu nhỏ tên Hoa Kính ở ngõ Thiên Thủy?”

“Đúng, không phải hai ngày trước phu nhân có đến hiệu của Bạch cô nương một chuyến sao?” Lý ma ma hiểu rõ tính nết chủ nhân, mỉm cười hỏi: “Nhị phu nhân đến xem nàng ta thật ra là nữ tử thế nào. Phu nhân xưa nay thông minh, việc gì cũng đi trước một bước, con dâu trưởng chưa vào nhà cũng phải đến xem xét”.

Chợt nhớ ra một việc, bà ta lại hớn hở: “Không hiểu phu nhân thấy nàng ta thế nào? Nghe nói cũng là mỹ nhân, người trong thành Lâm An nói nàng ta lợi hại lắm, gả cho đại thiếu gia coi như trưởng phòng [1] có thêm một cánh tay, nhị phòng thêm một đối đầu”.

“Hoa Kính... nàng ta đúng là hoa yêu”. Nhị phu nhân không tỏ vẻ hoan hỷ mà trong bóng tối, sắc mặt sầm hẳn lại, thanh âm trở nên rin rít: “Nghe nói những người mua hoa của nàng ta đều xảy ra chuyện trong nhà. Còn có người nói, con bạch anh vũ nàng ta nuôi thông minh hơn cả người, nữ tử yêu tà bất tường như thế sao lại vào cửa Tằng gia chúng ta được?”

“À, đó chẳng qua lời đồn thổi, dưới chân thiên tử lấy đâu ra những việc như thế”. Lý ma ma mỉm cười: “Nhị phu nhân vẫn tin Phật, nhưng có cần mê tín đến thế không? Thiện nhân như phu nhân còn sợ gì yêu tà?”

“Thiện nhân?”, giữa màn đêm yên lặng trong phòng, nhị phu nhân khẽ xòe quạt, đột nhiên như trong lòng nổi sóng, toàn thân run lên.

“Phu nhân, cây quạt này sao lại có máu?”

Những lời bạch y nữ tử ở Hoa Kính nói ban ngày lại vang lên bên tai nhị phu nhân.

Hôm đó, nàng ta mượn cớ đi mua tử trúc thay nan quạt, thật ra muốn đến xem con dâu trưởng phòng tương lai của Tằng gia là người thế nào. Nhưng vừa chạm vào ánh mắt lạnh lẽo cơ hồ soi thấu hết tất cả của bạch y thiếu nữ đó, tim nàng ta đã đập thình thình, lúc nàng ta mua chậu tử trúc, bạch y thiếu nữ chợt đưa tay vuốt nhẹ vào cây quạt rồi cong cổ tay lại, trên ngón tay trắng ngần như tuyết hiện lên một chấm đỏ.

Nàng ta kinh hãi, rúng động toàn thân, tử trúc phiến trong tay rơi xuống đất.

Mặt quạt bằng lụa vẽ bức “đào hoa tiên nhân đồ” của Hoàng Sơn cốc, vùng mây hồng đang tản ra đó rõ ràng là hoa đào, sao lại thành máu được? Sao... sao lại có máu ở đó?

Đã hơn mười năm rồi, dù là xương trắng dưới đất cũng hóa thành tro, sao vẫn còn máu được nhỉ?

* * * * *

“Giang Nam... là thế này hả?” Đại hán áo xám mặt nhuốm gió bụi đứng dưới hàng hiên nhìn cơn mưa phùn lây rây bên ngoài, lẩm nhẩm với vẻ cảm khái. Chưa dứt lời, gió cuốn theo cơn mưa phùn lùa vào mặt khiến y hắt hơi.

“Mẹ nó chứ, mưa phùn mà dai thế, còn tệ hơn bạch mao phong ngoài quan ngoại”. Tiết lập xuân đã qua nhưng hán tử áo xám vẫn mặc một chiếc áo da dê rách vài chỗ, dáng vẻ cực kỳ phong trần, thấy cơn mưa không có dấu hiệu ngớt liền mắng một câu.

Mắng xong, đại hán chợt nhớ ra, giậm chân với vẻ bất an, hướng ánh mắt đến cuối con đường lát đá xanh. Không sai, ban sáng y có hỏi người trong trấn, đây chính là quê nhà của Chu Thái.

Trời chưa sáng, y tới Song Phi trấn, đến gõ cửa nhà người ta nhưng không ai trả lời, đợi mãi mới có người đi qua, bèn nhỏ nhẹ hỏi han mới biết sau khi Chu Thái phạm án sung quân tận Ninh Cổ Tháp, ở nhà chỉ còn người vợ tên Phúc Nương bán hoa tươi sinh sống, chắc nàng ta ra ngoài chưa về.

“Ắt xì”. Gió lùa qua mái hiên, hán tử áo xám lại hắt hơi, hai chân đan nhau giậm giậm, rụt tay vào ống tay áo, nhìn về phía cuối con đường với vẻ nóng ruột.

Phúc Nương... Vương Phúc Nương. Y lẩm nhẩm gọi tên, khuôn mặt phong sương lộ vẻ khác lạ, đồng tử sáng rực như mắt chim ưng ánh lên nóng bỏng, hướng về cuối con đường.

Nữ tử đó thế nào? Có đúng trên trời vô đối dưới đất vô song như tiểu tử Chu Thái nói không?

* * * * *

“Chà chà... Thiết Tháp Lý, ngươi... ngươi không biết... nữ nhân của ta là mỹ nhân thế thế nào đâu... Nàng là người đẹp nhất Song Phi trấn. Đó... đó là nơi sinh ra hai quý phi...” Trong gió tuyết, tóc Chu Thái đầu to phủ đầy hoa tuyết, thoáng nhìn như quả cầu tuyết lớn, nhưng từ khóe miệng lạnh băng vừa thở phì phò vừa tuôn ra đứt quãng những câu vô cùng mê hoặc, đặc biệt với những phạm nhân bị đày đến Ninh Cổ Tháp, mấy năm nay không thấy nữ nhân. “Khụ khụ... ta dám cá, hai quý phi nương nương cộng lại... khụ khụ cũng không đẹp bằng Phúc Nương... dáng vẻ nàng... ừ...”

Lúc đó không biết bao nhiêu người đố kỵ với Chu đại đầu... Chu Thái phạm tội chứa chấp của ăn cắp bị người ta cáo giác nên phải ra Ninh Cổ Tháp đã tám năm, cũng coi là kẻ lão làng ở đây. Tám năm nay, mỗi lần phải làm việc vất vả, đều thấy gã lải nhải nhắc về nữ nhân như tiên nữ ở nhà, ai nấy không khỏi nhìn gã với vẻ ghen tỵ.

“Mắt nàng long lanh như hoa đào, mày cong lá liễu... thân thể nẩy nở... vòng tiểu yêu, hắc hắc, chỉ vừa một chét tay. Giọng nàng êm ái, lọt tai, ai nghe thấy cũng say mê”.

Sống ở miền bắc gió tuyết lạnh thấu xương, giữa lúc mắt mũi cay xè vì khói bốc lên từ đống phân ngựa khô đốt sưởi ấm, nghe Chu Thái thuật lại, mọi con mắt chai lỳ sau nhiều năm quần quật chợt sáng lên đầy khát vọng, vây quanh đống lửa mơ tưởng về Giang Nam xa xôi có hoa e ấp, liễu buông mành cùng những nữ nhân mỹ lệ chầm chậm rảo bước, để rồi lại trằn trọc trong đống cỏ cả đêm không ngủ được.

Tiểu tử Chu Thái này, nhân cách tạp nham, gia thế cũng bần hàn, hai con mắt ti hí lúc nào cũng nhắm tít vào, sao lại cưới được một người vợ như thế? Dọc đường từ Ninh Cổ Tháp xuôi nam, hán tử áo xám không ngừng suy nghĩ vấn đề này cho tới tận lúc đặt chân đến Song Phi trấn.

* * * * *

Cuối cùng cũng đến Giang Nam, đứng dưới hàng hiên mà đại hán áo xám vẫn thảng thốt như đang nằm mộng.

Y hắt hơi, nhìn quanh quất, không thấy ai qua lại liền thử đẩy cửa. Cánh cửa gỗ sứt sở, vừa đẩy liền vang lên tiếng kèn kẹt, tấm thiếp mừng năm mới dán trên bề mặt thấm nước mưa trở nên mềm nhũn, loang lổ vết đỏ do tay người đẩy cửa in lên.

Y bất giác chấn động, bàn tay lần vào trong ngực áo ước lượng một vật.

Đó là một cây chiết phiến cũ, tựa hồ dùng vài năm rồi, nan quạt bằng tử trúc sáng bóng lên như ngọc.

“Lại nữa rồi...” Thấy trời u ám trở lại, y lẩm bẩm.

Mưa rắc liên miên như rải tơ khiến lòng người bực bội. Y càng lúc càng sốt ruột, liên tục giậm châm, cơ hồ làm thế sẽ giũ sạch mọi giọt mưa đọng trên người, ánh mắt sắc lạnh lại như mắt chim ưng.

Cộp cộp cộp!

Tiếng bước chân vang lên rõ ràng trên nền đá lát đường, y ngẩng lên, nhận ra cuối con đường có một người- một hồng y nữ tử nâng tà váy, cầm dù lướt qua.

Mắt y sáng rực nhìn nữ tử, lúc đến gần mới phát giác thân thể nàng mảnh mai, trên búi tóc cài một bông ngọc lan hoa, gương mặt trái xoan, mày lá liễu, dáng vẻ hiển lộ nét linh tú chỉ có ở những nữ tử trong Song Phi trấn. Tim y đập nhanh, cổ họng khô khốc - đúng rồi... chính là nữ tử thế này ư?

Hồng y nữ tử nâng tà váy nhưng ánh mắt hoạt bát liếc tứ phía, cử chỉ tỏ ra lanh lẹ, thấy y đứng dưới mái hiên, nàng hơi đỏ mặt, ngoảnh đi nhưng vẫn liếc y một lần, khóe miệng cười mỉm, đưa tay vuốt tóc.

Không phải Phúc Nương.... Nàng ta không phải Vương Phúc Nương.

Đại hán áo xám thở hắt một hơi, tự lắc đầu xua khỏi óc những động tác dịu dàng của nữ tử.

Phúc Nương không phải như thế.

“Hắc hắc, không phải ta nói khoác, nương tử nhà ta đoan trang văn nhã, hiểu hết lễ nghĩa... Vương gia của nàng vốn là thư hương thế gia ở Song Phi trấn... tuy sau này sa sút nhưng nhạc gia của ta cũng là một tú tài”. Những lúc Chu Thái đầu to khoe khoang như thế, gương mặt múp míp sáng lên dưới ánh lửa đốt bằng phân ngựa: “Năm xưa nương tử về nhà ta, không có kim ngân tài bảo làm hồi môn, chỉ mang theo cây quạt này, các ngươi thấy có kỳ lạ không? Mấy bông hoa vẽ trên đó đều không tệ nhưng một cây quạt rách thì làm được gì... bất quá ta không chê bai gì, hắc hắc, ai bảo ta gặp được người vợ như tiên nữ? Hoàng đế lão nhi cũng không có phúc khí như ta”.

Những kẻ đi đày phần lớn nghèo khổ, bản thân vốn không biết được mấy chữ, nói gì đến việc cưới được một người vợ giỏi chữ nghĩa. Nghe Chu Thái ba hoa, ai nấy đều ngứa ngáy.

Tiểu tử Chu Thái này, nhân cách tạp nham, gia thế cũng bần hàn, sao lại cưới được một người vợ như thế?

Nghĩ vậy, đại hán áo xám lắc vai hất nước mưa văng đi, hai chân giậm thật nhanh, nhìn theo hồng y nữ tử. Quả nhiên không ngoài dự liệu, đi qua cửa nhà ai nàng cũng liếc hán tử nhìn mình, cước bộ không hề dừng lại.

Y không nhìn nàng nữa, lại quay đầu nhìn ra đường.

Giang Nam yên vũ mênh mông, phảng phất như một bức tranh thủy mặc vẽ cảnh ngói đỏ tường trắng, đào hồng liễu lục, thỉnh thoảng có nam thanh nữ tú cầm dù vẽ những hình đẹp đẽ đi qua. Tuy hiện giờ là Tuyên Hòa mạt niên, phía bắc nháo nhác vì người Kim xâm lấn nhưng từ phía nam Trường Giang trở xuống, cảnh tượng vẫn hiền hòa.

Đại hán chợt thấy mắt nóng lên - đúng, đúng, là thế này đây. Y nhả ngụm trọc khí tích trữ mấy tháng nay ra - là thế này đây. Đây là mùi vị hơi nước Giang Nam xuất hiện vô số lần trong mộng, cũng từng được nghe Chu Thái tả lại. Không có cảnh băng thiên tuyết địa, không có bạch mao phong kinh người, không có mùi phân ngựa đốt, cũng không có mùi hôi của những kẻ cả năm không tắm ở cùng nhau.

Cuối cùng, y cũng từ Ninh Cổ Tháp đến được đây, thấy được nữ nhân Chu Thái miêu tả trăm ngàn lần. Y khoanh tay vào ngực nhưng trong mắt không nén được niềm kích động dâng lên nóng bỏng.

“Huynh đài tìm ai?” Y đang nhìn màn mưa đến xuất thần, bên tai chợt vang lên tiếng nữ nhân ôn nhu hỏi.

Bất quá là một câu nói nhưng khiến hán tử như thiết tháp run rẩy ngoái lại, mắt tỏ vẻ kinh ngạc xen lẫn vui mừng, móc tín vật tử trúc phiến trong ngực áo ra, vừa lẩm bẩm: “Tôi... tôi đến tìm nương tử Phúc Nương của Chu Thái...”

“Là tôi”. Nữ tử bạo gan đáp, thấy cây chiết phiền liền tiến lên đoạt lấy: “Huynh... huynh đài sao lại có vật này. Huynh đài...” Chưa dứt lời, nàng ta xòe tay ra xem, biến hẳn sắc mặt, ngẩng đầu hỏi khách, giọng nói hơi run rẩy: “Huynh đài sao lại có vật của chồng tôi?”

Lúc Vương Phúc Nương ngẩng đầu, hán tử áo xám nhìn rõ mặt nàng - trước đây chỉ nghe Chu Thái miêu tả nhưng gương mặt nàng từng hiện lên cả ngàn lần trong lòng y, tuy mỗi lần khác nhau nhưng đều mỹ lệ tú nhã phi thường.

Nhưng Phúc Nương chân chính đứng trước mặt y lại...

* * * * *

“Ngụy tiên sinh từ xa đến, hàn xá không có gì chiêu đãi, mời tiên sinh dùng một chén trà”. Đưa khách vào nhà, giọng nữ tử trở lại bình thường, bưng một chiếc khay bằng gỗ đỏ, dùng quá lâu nên màu gỗ chuyển thành đen, càng khiến mấy chiếc chén sứ lam hoa bắt mắt hơn.

“Đa tạ... đa tạ đệ muội”. Hán tử áo xám Ngụy Thắng ngượng ngùng lau bàn tay dính dầy bùn đất vào áo, cẩn thận bưng chén trà lên, nhân cơ hội quan sát Phúc Nương vừa từ hậu đường bưng trà ra.

Tiểu tử Chu Thái nói không sai một điểm, vợ hắn quả nhiên là nữ nhân biết lễ nghĩa, những lời nàng ta vừa nói há mấy bà nương chua ngoa so sánh được? Ngụy Thắng cúi đầu uống trà, liếc nhìn hai bàn tay bưng khay - tuy của người lao động nhưng mười ngón vẫn trắng muốt, thanh mảnh.

Chỉ đáng tiếc, câu ví “trong mắt tình nhân có Tây Thi” không sai, vợ Chu Thái nhan sắc bình bình, mày thưa mắt hẹp, mũi hơi gãy, trên mặt lại có mấy mụt trắng, miễn cưỡng cho là coi được, thua xa hồng y nữ tử ban nãy.

Ngụy Thắng bất giác thấy thất vọng, ngàn dặm bôn ba đến đây lại gặp một nữ tử thế này khiến y có cảm giác phẫn nộ vì bị lừa. Đột nhiên y ngồi phệt xuống ghế như quả bóng xì hơi, cảm giác mệt rũ người sau quãng đường dài, không khách khí nữa, bưng chén trà uống một hơi cạn sạch.

Vừa đặt chén trà xuống, đưa tay lau miệng, thấy Phúc Nương dâng trà xong liền lui lại im lặng, cúi đầu lật đi lật lại ngắm nghía cây tử trúc phiến, y hơi ngẩn người nhưng không nói gì.

“Ngụy tiên sinh... Ngụy tiên sinh từ Ninh Cổ Tháp về, không biết, không biết chồng tiểu muội ở đó thế nào?” Phúc Nương đưa đôi tay trắng ngần run rẩy xòe chiết phiến ra xem hồi lâu, ngần ngừ một lúc mới lên tiếng hỏi khách, làn my nhíu chặt, phảng phất sợ nghe thấy tin không lành.

“Chu Thái...” Ngụy Thắng ấp úng, nhìn cây tử trúc phiến trên tay Phúc Nương mới hạ quyết tâm: “Chu Thái chết tại Ninh Cổ Tháp rồi! Cùng người khác vào núi chặt củi, bị đại thụ đè lên người”.

“Cộp!”

Một tiếng động vang khẽ vang lên, cây quạt từ tay Phúc Nương rơi xuống đất, nàng ta ngây người nhìn cây quạt, nước mắt nhỏ xuống ròng ròng, nhưng khóc không thành tiếng.

Ngụy Thắng lại ngượng ngùng đưa ống tay áo rách nát lên lau mồ hôi, không biết nên nói gì, ánh mắt sắc như chim ưng ảm đạm hẳn - y không chịu nổi việc nữ nhân khóc, nhất thời ấp úng: “Đệ muội, đệ muội đừng buồn...”

Bờ vai Vương Phúc Nương rung lên, nước mắt lăn tròn trên má.

“Trước khi Chu Thái đi còn móc cây quạt này ra nói là của đệ muội mang theo lúc về nhà chồng, dặn ta nếu được đại xá, sống sót khỏi Ninh Cổ Tháp thì đến Giang Nam trao cho muội”. Ngụy Thắng nói một hơi những lời đã chuẩn bị trước, đoạn thở phào nghiêng mắt nhìn Phúc Nương: “Cây quạt này Chu huynh đệ coi như bảo bối, lúc đi ngủ cũng đặt dưới gối...”

Vương Phúc Nương không khóc lóc như y dự tính mà chỉ ngồi thụp xuống nhặt tử trúc phiến lên ngắm nghía.

Ngụy Thắng từng nhìn cây quạt vô số lần, y là người thô thiển nên không hiểu gì, chỉ thấy nhớ có vẽ đào hoa lâm đo đỏ, trong rừng có am đường bé xíu, trước cửa là một lão nhân tiên phong đạo cốt đang đứng. Hình như nét vẽ đã lâu, lớp lụa trở nên ố vàng, nhưng hoa đào và lão nhân vẫn sống động như thật.

“Đó là “đào hoa tiên nhân đồ” do Hoàng Sơn cốc vẽ... là bảo bối gia truyền mấy đời nhà tiểu muội, sau này trở thành vật muội đem về nhà chồng...” Phúc Nương nghẹn ngào, nước mắt nhỏ xuống thân quạt, nàng ta run rẩy dùng ống tay áo lau hết nước mắt dính vào mặt lụa, lẩm nhẩm: “Vừa nghe nói có đại xá, sao... sao lại chết rồi? Sao lại chết rồi? Sao lại chết rồi?”

“Cũng do Chu huynh đệ không may... chẳng qua mắc tội chứa chấp, chắc chỉ mấy năm sẽ được đại xá”. Ngụy Thắng thấy nàng ta không ngừng rơi lệ, sắc mặt nhợt đi, chỉ biết xoa tay cúi đầu: “Những lúc nhàn rỗi, Chu huynh đệ vẫn tán dương đệ muội mỹ mạo hiền huệ, lúc nào cũng tưởng nhớ, có phải...”

Định cầm chén trà lên uống nhưng phát giác đã uống hết từ nãy, y càng ngượng ngùng, đưa tay áo lên lau trán.

Phúc Nương lau đi lau lại vết nước trên quạt, không hiểu sao tay run lên.

“Ta thấy mi lại không kìm được nước mắt...” Nàng ta thu lại cây quạt, lau lệ miễn cưỡng mỉm cười: “Ngụy tiên sinh mang tin từ xa đến, tiểu muội còn chưa đa tạ”.

Ngụy Thắng thấy nàng lau lệ, mới thở phào, còn may tính tình nữ nhân này đúng như Chu Thái kể, bằng không y quả thật bối rối. Y buông tay áo rách nát xuống: “Đệ muội bất tất khách khí, ở Ninh Cổ Tháp, ta và Chu Thái cũng là hảo huynh đệ. Chu huynh đệ phó thác, ta tự nhiên phải đến Giang Nam một chuyến”.

Phúc Nương khóc đỏ mắt, thấy y nói vậy cũng gật đầu: “Ngụy đại ca y phục lam lũ, gió bụi hiện rõ, chắc dọc đường vất vả nhiều rồi. Nhà tuy nghèo, không có gì ngon chiêu đãi, mời đại ca đợi một chút, Phúc Nương sẽ đi chuẩn bị mấy món ăn”.

Có vẻ nàng ta cảm kích đại hán lạ mặt này vượt ngàn dặm đưa di vật của trượng phu hồi hương, đổi xưng hô thành “đại ca” khiến Ngụy Thắng xúc động. Nàng ta không để y khách khí từ chối mà đi ngay vào nội đường.

Gian ngoài chỉ còn lại mình Ngụy Thắng, y tỏ vẻ khó xử, ngần ngừ một lúc mới đứng dậy ra bên cửa, định cất bước. Vừa hay bên ngoài có tiếng mõ vang lên, phu canh tuần đi qua, y vội lùi vào phòng, đóng cửa.

Bên ngoài trời vẫn mưa, trời tối hẳn, y ngẫm nghĩ một lúc, đành ngồi xuống.

“Tính nết đúng như Chu đầu to tán dương... nhưng tướng mạo sao lại khác xa?” Y lẩm bẩm, chợt ngừng lời ngay, nữ chủ nhân vừa trở thành quả phụ đang bưng một chén trà nóng tới, mắt còn mọng nước, nhưng vẫn ân cần: “Cơm nước sẽ xong ngay, Ngụy đại ca chắc đói rồi, uống một chén trà đã”.

* * * * *

Nữ nhân đi vào nội đường hồi lâu chưa ra, chỉ có mùi cơm canh dần khuếch tán trong không khí.

Ngụy Thắng thong thả uống trà, tựa lên thành ghế nhìn tứ phía, gia đình này quả thật thanh bần, trừ bộ bàn ghế không còn bày biện vật gì, nhưng lạ lùng là do một nữ nhân làm chủ.

“Tuy không đẹp như Chu Thái kể nhưng cũng không tệ... tên tiểu này quả có phúc khí”. Y lẩm bẩm, chợt run lên, uống vội mấy ngụm trà, nhìn ra ngoài cửa.

Trời đã tối om, mưa vẫn lặng lẽ rơi.

Y tựa hẳn vào thành ghế ngắm mưa, chợt có cảm giác mệt mỏi, từ Ninh Cổ Tháp đến Giang Nam đã chịu không ít khổ cực, khó khăn lăm mới đến được Song Phi trấn, gặp người cần gặp, thần kinh căng thẳng liền chùng xuống khiến đang lúc ở phòng khách nhà người khác, y cũng thấy uể oải.

Phúc Nương chưa ra, mùi cơm canh thơm nức, nhưng trong nội đường lặng ngắt. Ngụy Thắng kinh hoảng, nghĩ đến việc nàng ta từng đọc sách, tính tình lại đoan trang trinh khiết, hiện giờ đột nhiên biết tin dữ của chồng, liệu có cạn nghĩ không?

Đang lúc y nghĩ vơ vẩn, tiếng bước chân nhẹ nhàng vang lên, Phúc Nương bưng mâm cơm ra ngoại đường, đặt trước mặt y, mỉm cười nói: “Không có gì ngon chiêu đãi, Ngụy đại ca tự nhiên dùng bữa”.

Y thở phào, lau mồ hôi lạnh trên trán, mỉm cười mệt mỏi với nàng ta: “Đệ muội khách khí quá”.

Phúc Nương thấy y vén ống tay, ánh mắt thoáng biến đổi rồi bày biện đồ ăn, thu dọn khay trà: “Ngụy đại ca từ từ thưởng thức, dưới bếp còn mấy món nữa, tiểu muội sẽ mang lên sau”.

“Không cần khách khí như vậy...” Ngụy Thắng chưa nói hết câu, Phúc Nương đã đi vào bếp. Măng củ hầm thịt chỉ là món thông thường ở Giang Nam nhưng hương thơm phức, đối với người nhiều năm làm khổ sai ở Tái ngoại không kém gì đại tiệc. Ngụy Thắng tuy mỏi mệt nhưng ngửi mùi hương, ngón tay cũng máy động.

“Tiểu tử Chu Thái... quả nhiên phúc khí không nhỏ”. Gắp mấy đũa, y thở dài nuốt thức ăn, nhìn xuống bóng nữ nhân dưới bếp, không khí gia đình ấm áp lan tỏa khiến kẻ lang bạt đường xa cởi lòng. Tiếng dao thớt vang lên, mắt y chợt sáng rực, nàng ta quả thật là một nữ tử tốt.

Trong mắt tình nhân có Tây Thi, có phải là thế này chăng?

“Ngụy đại ca, Ngụy đại ca”. Đang suy nghĩ, chợt giọng nữ nhân ôn nhu vang bên tai, y tỉnh ngay, mở bừng hai mắt đang cay cay, nhận ra trên bàn đã đốt đèn, Phúc Nương tỏ vẻ áy náy: “Món ăn mới nấu, đại ca chắc đợi lâu rồi, mau ăn nóng mới ngon”.

“Đệ muội... vất vả quá”. Y bất giác ngáp dài hết sức thất lễ, cảm giác vô cùng mệt mỏi, ngay cả khí lực cầm đũa cũng không nổi, trước mặt bày ê hề thức ăn, tuy không phải món ăn quý giá gì nhưng màu sắc hương vị ngon lành, tỏ rõ tay nghề của chủ nhân.

Phúc Nương ngồi xuống bàn, ân cần gắp thức ăn cho khách, mắt vừa khóc xong nên còn đỏ lựng nhưng ánh nhìn tỏ vẻ kỳ dị. Người kiến đa thức quảng như Ngụy Thắng cũng thấp thỏm, không liên tưởng đến khung cảnh hương diễm nào mà loáng thoáng nhận ra có điều không ổn.

“Lại chết như thế...” Thấy Ngụy Thắng gật gù muốn gục xuống ngủ, Phúc Nương mới gắp vài miếng cũng dừng đũa, không khuyên y ăn thêm mà lấy cây tử trúc phiến ra ngắm nghía hồi lâu, miệng lẩm bẩm: “Lại chết như thế... Ta tưởng hắn sớm muộn cũng quay về, không ngờ lại bị người ta giết”.

Bốn tiếng sau cũng như lưỡi đao nhọn đâm vào tim Ngụy Thắng, bao nhiêu mệt mỏi đột nhiên tan biến, mở bừng mắt nhìn nữ nhân đối diện, rít lên: “Ngươi nói gì?”

“Ta nói chồng ta đúng là oan uổng, tưởng rằng được hồi hương, lại bị người lấy mạng”. Vương Phúc Nương không ngẩng lên, một mực cúi nhìn chiếc quạt, hình như nước mắt ban nãy chưa khô hẳn, lại lấy khăn tay ra lau, lạnh lùng cất tiếng.

“Nói lăng nhăng”. Ngụy Thắng vừa kinh vừa nộ, định vỗ bàn đứng dậy, chợt biến sắc, tứ chi cơ hồ bị đóng đinh xuống đất, mềm oặt, không nghe theo ý muốn của y, lập tức xuống giọng: “Nói lăng nhăng gì thế, đệ muội đừng võ đoán. Ta chỉ là người có lòng tốt từ xa đưa tin đến, đệ muội cũng là người hiểu biết, đừng đoán mò”.

“Đoán mò? Mò chỗ nào”. Phúc Nương cúi đầu, ánh nến từ bàn ăn hắt lên mặt nàng ta, nữ tử ngũ quan bình thường này chợt lãnh tĩnh như băng tuyết, giơ mặt lụa trên cây quạt lên cho y xem: “Cây tử trúc phiến cho ta biết”.

Ánh mắt Ngụy Thắng đông cứng, chăm chăm nhìn tay Phúc Nương.

Máu! Màu máu đỏ nhạt nổi bật trên nền lụa trắng.

Chuyện... chuyện này là sao? Rõ ràng y từng nhìn, trên quạt làm gì có... cục hầu trên cổ y giật giật, hồi lâu không thốt lên lời.

Phúc Nương nắm chặt lớp lụa, ghé sát mặt y: “Ngươi nói chồng ta bị gỗ đè chết, trước khi chết móc quạt ra đưa cho ngươi, vậy vết máu này ở đâu ra?” Nàng ta ngừng lại, lãnh quang lưu động giữa đôi mắt dài hẹp, được ánh nến chiếu vào càng ghê người, nhạt nhẽo nói tiếp: “Ngươi cũng từng xem qua cây quạt nhưng trên đó vẽ hoa đào, máu không dính nhiều, khó lòng nhận ra. Không chỉ ngươi không thấy mà lúc ta mới đón lấy cây quạt cũng không phát giác... không ngờ lúc lau nước mắt lại có máu dính vào tay”.

“Ta nghĩ ra rồi”. Ngụy Thắng ấp úng hồi lâu, mặt xám như tro tàn, vội tìm một lý do: “Trên đường đến đây, ta bị ngã thụ thương, chắc lúc đó máu dính vào, đệ muội đừng cả nghĩ”.

“Vậy sao?” Phúc Nương ngẩng lên nhìn y. Hán tử cao lớn bị dược lực tác động, toàn thân đẫm mồ hôi lạnh, nàng ta mân mê cây quạt, cúi đầu cười lạnh, chậm rãi hỏi: “Ta hỏi ngươi thêm một câu, y phục của chồng ta, sao lại mặc lên mình người? Đừng tưởng tám năm nay ta không gặp hắn, ống tay ngươi rách toạc, lộ ra lớp áo lót, cái cúc trên đó do chính tay ta khâu nên nhớ rất kỹ”.

Trán Ngụy Thắng mồ hôi càng dày, theo ý thức rụt tay vào ống tay áo nhưng chợt thấy thân thể cũng không động đậy nổi.

“Ngươi còn định nói rằng là chồng ta đem hết đồ vật trên người giao cho ngươi?” Phúc Nương vuốt tóc, dưới ánh nến, mắt nàng ta sắc nhọn như mũi châm, khé miệng hiện rõ nụ cười lạnh: “Đương nhiên, ngươi có thể tùy tiện tìm một lý do, ai bảo ta không có mặt ở Ninh Cổ Tháp để tận mắt nhìn thấy? Bất quá...”

Nàng ta dừng lại rồi ngửng lên lạnh lùng nói: “Đừng tưởng ta không ra ngoài mà dễ bắt nạt. Ngươi bảo mình được đại xá quay về nhưng đại xá xảy ra khi nào? Mồng chín tháng trước, ta tuy chỉ ở nhà, không hiểu lắm việc đời nhưng chồng ra quan ngoại, cũng thường xuyên nghe ngóng khi nào sẽ khai ân... từ lúc đại xá đến giờ mới hơn một tháng, bằng ấy thời gian, ngươi làm sao từ Ninh Cổ Tháp về đến Song Phi trấn được?”

Mắt nàng ta sáng rực: “Ngươi không phải được đại xá mà tự trốn về, đúng không?”

Ngụy Thắng mồ hôi đẫm trán, nhìn vào mắt nàng ta. Phúc Nương nheo tít mắt lại, nhướng mày lên, thần sắc kỳ dị khôn tả, bất giác y thấy chân tay lạnh ngắt, nữ nhân... nữ nhân này hóa ra thông minh đến thế.

“Bất quá ta không hiểu, ngươi giết chồng ta rồi, vì sao còn đến tận Song Phi trấn?” Nàng ta càng nhíu mày chặt hơn, lần đầu tiên ánh mắt tỏ ra nghi ngờ nhìn vị khách run như cầy sấy dưới ánh nến.

Ngụy Thắng nhìn thêm dung mạo bình bình của nàng ta, trán ngừng toát mồ hôi lạnh, chợt cười ha hả, mỉm cười tự trào, lắc đầu đáp: “Ta chỉ muốn nhìn thấy cô một lần”.

Nói xong y cũng thấy mình đáng cười liền cười vang - ai tin được? Có ai tin y lặn lội gió bụi về Song Phi trấn để nhìn nữ tử tên “Vương Phúc Nương” này một lần?

Bao nhiêu lần rồi... y được nghe cái tên này từ mồm Chu Thái, vừa tán dương vừa ám muội, vùng Giang Nam đầy ẩm ướt và phong tình ấy phảng phất trở thành mơ ước của các phạm nhân khổ dịch vùng biên tái, khiến ai nấy đều ghen tỵ. Lúc đó, y ngồi trong căn nhà bị tuyết lấp kín cửa, lấy phân ngựa hơ đỏ lừ đôi tay, ánh mắt nóng bỏng thầm nghĩ đó là nữ nhân thế nào... có thật sự vô song vô đối như Chu Thái đầu to khoác lác không?

* * * * *

Lúc cả hai bỏ trốn, bạch mao phong [2] đang lồng lộn, thổi tan quan binh đuổi theo, đồng thời ép cả hai phạm nhân vượt ngục từ Ninh Cổ Tháp sa vào rừng sâu thăm thẳm. Y và Chu Thái khấp khểnh cất bước bám theo nhau, dựa vào ánh sáng hắt lên từ mặt tuyết nhận hướng rồi xuôi về phía nam.

Dọc đường y không nói câu nào, cố giữ gìn thể lực hy vọng vận khí khá hơn gặp được thợ săn, bằng không ắt cả hai khó tránh khỏi cảnh chôn thân trong chốn rừng thẳm tuyết dày.

“Ai bảo ta gặp được người vợ như tiên nữ? Hoàng đế lão nhi cũng không có phúc khí như ta...” Trong gió tuyết, Chu đầu to theo sát gót nhưng không chịu trầm mặc như người đi trước mà vẫn lải nhải khoe khoang.

“Câm mồm”. Đã nghe mấy ngàn lần những lời như thế, y không chịu nổi, cộng thêm tính đố kỵ trỗi dậy bật thành tiếng quát, quay phắt lại giận dữ nhìn đồng bạn.

“Thế nào, ngươi muốn lấy vợ mà không được hả? Khụ khụ... giữa tiết băng thiên tuyết địa này, nếu không phấn chấn lên, ta sẽ không động đậy nổi...” Chu Thái tỏ vẻ mệt mỏi nhìn bạn đồng hành, băng đóng quanh lông mày và râu gã, cái lạnh cùng cơn đói khiến cước bộ gã loạng choạng.

“Con bà nó”. Ngụy Thắng rủa một câu, lại tiếp tục cất bước giữa tuyết trắng nhưng trong lòng trống rỗng, y có ai để nhớ? Vốn y là cô nhi bị bỏ rơi, lớn lên ngoài đường phố, một lần say rượu giết chết một tên vô lại khác, bị sung quân đến Ninh Cổ Tháp... kỹ quán tửu lâu từng đến không ít lần nhưng trong lúc gió tuyết bời bời này, y không tìm ra ai để nhớ tới.

Còn ai nhớ đến y... y có ai mà nhớ?

“Nàng xinh đẹp lắm, mày lá liễu, ánh mắt lung linh, khẽ liếc... khẽ liếc là khiến người khác bay hết hồn vía...” Dù thở dốc, Chu Thái vẫn không ngừng lải nhải miêu tả lại vẻ đẹp của thê tử ở Giang Nam xa xôi, ánh mắt chợt hiện lên nét cười ám muội: “Nói chung... khụ khụ, nữ tử trong Song Phi trấn nhiều người xinh đẹp nhưng... nhưng không ai có được.... có được phong vị nữ nhân như nàng”.

Y càng nghe càng bực mình, không biết có phải vì ăn hết số lương khô mang theo đâm ra đói hay không mà tâm lý bứt rứt, hung hãn nhìn sang Chu Thái đang dương dương đắc ý, cảm xúc trong lòng đan xen thành một mớ hỗn độn - tiểu tử này đang nhớ vợ nên mới hưng phấn vậy chăng?

Y nhớ ai? Nhắm mắt lại lục trong ký ức, từng gương mặt quen thuộc lướt qua nhưng đều thấp thoáng. Chợt có người mỉm cười với y, người con gái có gương mặt trái xoan trắng ngần, ánh nhìn long lanh, cử chỉ văn nhã đang cười với y. Đó là, đó là... Vương Phúc Nương!

Xưa nay y chưa từng gặp nàng ta, chỉ dựa vào Chu Thái đầu to mỗi ngày nhung nhớ thuật lại mà sống mãi trong óc y, thoạt xa thoạt gần mỉm cười với y.

Y lại cất bước, cảm giác huyết mạch toàn thân đập nhanh, chỉ mong ra khỏi khu rừng quỷ quái này, bên tai vẫn vang lên tiếng Chu Thái lải nhải: “Ta dám cá, hai quý phi nương nương xuất thân từ Song Phi trấn cộng lại... khụ khụ cũng không đẹp bằng nàng...”

Không hiểu sao, lần đầu tiên y không thấy bực mình, bật cười ha hả, lên tiếng phụ họa: “Không sai, nhất định đẹp lắm...” Mỗi lần nghe Chu Thái nhắc đến nàng ta, hình ảnh trong óc y lại rõ ràng thêm, tự nhủ nhất định phải thoát được, nhất định phải thoát, rồi còn đi gặp nàng.

Đáng cười biết bao... chỉ dựa vào lời tả của Chu Thái mà y si mê một nữ tử chưa từng gặp mặt. Đáng cười biết bao, nhưng dù đáng cười, trong hoàn cảnh khốn đốn, đó lại là nguồn sống của y.

Gió tuyết, gió tuyết, vẫn là gió tuyết. Rừng rậm, rừng rậm, toàn là rừng rậm...

Không biết đi được mấy ngày, bao nhiêu lương khô mang theo sạch bách mà vẫn chưa thấy bóng người. Chu Thái không giữ nổi thể lực nhưng tinh thần vẫn phơi phới, chỉ có điều không còn khí lực ca tụng vợ nữa.

Mỗi ngày chỉ đi được chừng ba thời thần là trời đã tối, tìm được một hốc núi tránh gió tuyết, y và Chu Thái uể oải gục xuống, rúc người vào áo bông run lên cầm cập. Y cảm giác chân mình mất hết tri giác, bèn buông lỏng, chà xát thật mạnh bọng chân, sờ vào ba chiếc màn thầu cứng như sắt trong ngực áo, thầm tính cứ đi thế này, cả hai không thể thoát khỏi khu rừng. Mắt y sầm xuống, lạnh lùng nhìn Chu Thái nằm sóng soài như chết cạnh đó.

Gã đút tay trong ngực áo, nắm chặt cây tử trúc phiến bảo bối, vành môi nứt nẻ mấp máy, chắc đang lầm rầm động viên bản thân.

Tay y thọc xuống đáy lớp tuyết lần mò, một lúc sau cũng tìm được một khối đá lạnh băng. Bàn tay đỏ lựng cật lực nhấc khối đá lên, dốc toàn lực đập xuống đầu Chu Thái. “Bộp”, máu cùng óc văng tứ tán như hoa đào bừng nở trên băng tuyết, nháy mắt liền đông lại thành băng.

Y bò tới, cúi xuống mò lương khô trên thi thể Chu Thái, rồi lột sạch y phục mặc lên mình, sau cùng giật luôn cả cây tử trúc phiến, đút vào ngực áo.

Trong óc, nữ tử mặt trái xoan, mày lá liễu mỉm cười nhìn y với ánh mắt long lanh.

* * * * *

“Ta chỉ muốn xem mặt cô... xem mặt vợ Chu Thái có xinh đẹp, hiền thục như hắn ca ngợi không...” Đại hán áo xám tự biết hôm nay không thể thoát thân, cũng coi như phải dấn thân vào kiếp nạn sinh tử, y không chấn kinh nữa mà bình tĩnh cười ha hả: “Chỉ muốn xem Vương Phúc Nương cô một lần”.

Phúc Nương ngẩn người, chiết phiết rớt xuống bàn, ngồi sững sờ trên ghế.

“Gặp... gặp ta?” Nàng chống tay lên trán, cúi đầu lẩm nhẩm, mắt lóe lên thần sắc bất định, chợt bật lên tiếng cười lạnh: “Xinh đẹp? Có phải trắng trẻo nõn nà, mày lá liễu, đào hoa nhãn, mỉm cười là hiện lên núm đồng tiền? Tên tử quỷ đó nói thế phải không?”

“Không sai”. Thấy nàng ta cười quái dị, Ngụy Thắng cũng hơi kì quái, lên tiếng đáp.

Phúc Nương buông tay ngẩng lên, mặc cho ánh đuốc mờ mờ hắt vào mặt, quay sang lạnh lùng hỏi khách: “Vậy ngươi đi xa như thế không phải gặp thất vọng lắm ru? Chồng ta lừa ngươi rồi”.

Gương mặt phổ phổ thông thông trở nên âm ám biến hóa kỳ dị, hòa trong bóng tối, ánh mắt nàng ta lóe sáng, không hiểu sao Ngụy Thắng lại rúng động, nữ nhân này không hề đơn giản... ít nhất Chu Thái nói đúng một điểm, nàng ta không phải nữ nhân tầm thường.

“Hắn là chồng cô, trong mắt tình nhân có Tây Thi, vậy cũng đúng thôi mà”. Bất đắc dĩ, Ngụy Thắng đành thừa nhận mình thất vọng, chỉ buông một câu nhạt nhẽo.

“Ha ha ha ha!” Lời chưa dứt, phía bàn đối diện vang lên tiếng cười rợn người, y kinh hãi dừng lời nhìn sang.

“Trong mắt tình nhân... khụ khụ, trong mắt tình nhân có Tây Thi?” Vương Phúc Nương vẫn bình thản chợt cười rộ dưới ánh nến, liên tục ho lên sặc sụa, nắm chặt vạt áo: “Tây Thi gì? Tây Thi bán dầu vừng? Tên tử quỷ, tên tử quỷ đó đến lúc chết vẫn nhớ con tiện nhân kia”.

Ngụy Thắng ngây người nhìn nàng ta cười méo mó, nước mắt chảy tràn: “Cô muốn nói... người Chu Thái nhắc tới... không phải là cô?” Y tỏ vẻ bất ngờ.

Vương Phúc Nương tắt cười, nghiến răng quay lại nhìn y, lạnh lùng đáp: “Không sai! Đó là tiện nhân tên tử quỷ đó dan díu, ‘trắng trẻo nõn nà, mày lá liễu, đào hoa nhãn, mỉm cười là hiện lên núm đồng tiền’ đúng không? Là con tiện nhân Tôn Tiểu Liên bán dầu vừng, sống ở bên đầu ngõ, quen thói mặc áo đỏ, õng ẹo qua lại trên đường quyến rũ nam nhân”.

Ngụy Thắng hít sâu một hơi, nhớ lại hồng y nữ tử đi qua lúc y đứng dưới hàng hiên. Tóc cài trâm ngọc lan hoa, mắt long lanh như hoa đào, đôi mày lá liễu, thân thể nõn nà, cử chỉ hoạt bát yều kiều - là nàng ta chăng?

“Là nàng ta ư? Ta vừa nhìn thấy...” Y ngắc ngứ thốt lên.

Phúc Nương cười lạnh, liếc xéo sang y: “Hay thật, ngươi đi chuyến này cũng không oan uổng, cuối cùng cũng gặp được chủ nhân chân chính. Thế nào, tiện nhân đó được chứ?” Nàng ta nghiến răng, nước mắt lại rơi xuống, cúi đầu dụng lực nắm chắc tử trúc phiến, bờ vai rung rung: “Tử quỷ đó... tử quỷ đó đúng là ma xui quỷ khiến... Tây Thi dầu vừng là nữ nhân thế nào? Hồ ly tinh! Hơn nữa thị là quả phụ nhà ai? Nhà thúc bá của hắn? Hắn có hiểu nếu việc loạn luân này bị người trong họ phát hiện, tránh sao khỏi cảnh bị nhúng vào mỡ lợn đốt thiên đăng? Chu thị tông tộc ở Song Phi trấn chưa bao giờ nương tay với những việc như thế”.

Ngụy Thắng ngẩn người nhìn nàng ta phục xuống khóc lóc, đứt đứt nối nối kể lể.

“Đúng là hắn bị mỡ lợn che lấp tâm trí! Ta muốn khuyên cũng không nổi, để tránh bóc trần hắn, ta đành giả bộ không biết. Nhưng ta... ta không thể trơ mắt nhìn tên tử quỷ bị người ta phát giác, lôi cổ đi nhúng vào mỡ lợn...” Phúc Nương dụng lực nắm tử trúc phiến, ngón tay trắng bợt, Ngụy Thắng nghe thấy một tiếng “cách” vang lên.

“Chả trách tên tiểu tử Chu Thái cứ hàm hàm hồ hồ... việc loạn luân với thúc mẫu này mà nói ra tất bị người ta mắng là chó lợn”. Y dần bình tĩnh, quên cả hoàn cảnh bản thân, thương xót nhìn nữ tử đang khóc dưới ánh nến, gật gù nói: “Cũng may sau đó hắn phạm tội, phải đi Ninh Cổ Tháp”.

Vương Phúc Nương ngừng khóc, lau khô nước mắt, ngẩng lên cười lạnh, nghiến răng nói: “Hắn đúng là oan uổng, nhân chuyện một năm trước trong trấn có xảy ra cướp phỉ, ta mới giấu hết đồ tế nhuyễn vào phòng hắn rồi đến báo quan phủ rằng chồng mình cấu kết với tặc nhân, oa tàng tang vật”.

“Cô... cô đẩy Chu Thái đi?” Ngụy Tháng chợt thấy trán tuôn mồ hôi lạnh, vốn y không coi sống chết vào đâu nhưng những lời này vẫn khiến hàn ý dâng lên trong lòng.

“Ta phải tách hắn khỏi con hồ ly tinh”. Phúc Nương nhướng mày, nhãn thần sáng rực ẩn hiện ánh lệ: “Bằng không tám năm này hắn chắc gì đã còn sống, có khi bị người ta đốt thiên đăng rồi. Việc gì ta cũng dám làm, chỉ cần hắn tách khỏi con tiện nhân là được. Tội oa tàng tang vật không chết được, ta đã nghe ngóng trước rồi”.

Ngụy Thắng bất giác không thốt lên lời, cảm giác bản thân cũng chịu áp lực, thông minh quá... nữ nhân thế này, đổi lại y là Chu Thái tất cũng sợ hãi khôn cùng.

“Nhưng... ta không ngờ tên tử quỷ lại mất mạng. Chết hay lắm, chết hay lắm”. Bàn tay nàng ta run lên, ôm mặt khóc nức nở: “Lại... lại chết ở đó! Ta vốn cho rắng hắn trở về... sẽ đổi tính, cùng nhau sống đến cuối đời... ngươi nói là hắn kể rằng ta hiền thục hiểu lễ nghĩa, chứng tỏ hắn dù bị hồ ly tinh câu hồn nhưng vẫn nhớ đến ta... ta tưởng lần này được đại xá, hắn quay về, nếu ta sinh được một nhi tử có lẽ sẽ giữ được hắn... nhưng hắn lại... hắn lại chết ở đó”.

Nàng ta khóc nức nở chợt ngẩng lên, khuôn mặt nhòe nhoẹt nước mắt nhìn y lạnh băng.

“Ngươi định mang ta đến cáo quan chăng?” Dưới ánh nhìn của nàng ta, giang dương đại đạo từ tử địa trở về như Ngụy Thắng cũng rùng mình, run rẩy hỏi.

Phúc Nương cười lạnh: “Cáo quan? Lại để ngươi đến Ninh Cổ Tháp rồi trốn về sao?”

Trong mắt nàng ta toàn hận ý, hiển hiện nét âm trầm: “Ngươi trốn về, đúng không? Dù gì cũng chẳng ai biết ngươi là kẻ nào... thậm chí không ai biết ngươi đến đây hôm nay...”

Ngụy Thắng chợt thấy đại sự đã hỏng, không đợi y lên tiếng, nàng ta đứng ngay dậy, đi vào nhà bếp, tiếng chai lọ va nhau loảng xoảng, không biết nàng ta tìm gì, tiếp đó tiếng cháy bùng bùng vang lên, khói lửa dày đặc lan ra, nàng ta... nàng ta định làm gì?

Y hoảng sợ, cảm giác nguy hiểm đang từng bước áp sát, cực kỳ muốn động chân động tay song không thể nhúc nhích. Đang lúc cố gắng giãy giụa, chợt thấy lạnh buốt, hơi lạnh thấu tâm thấu cốt từ đỉnh đầu lan xuống.

“Cô định làm gì?” Y ngửi thấy mùi hương kỳ dị trên mình, kinh hãi buột miệng hỏi. Chợt thấy Phúc Nương đặt bình xuống, quay người cầm ngọn nến trên bàn xuống, đứng trước mặt y, ánh nến lập lòe hắt lên mặt nàng ta, trong mắt lộ rõ nét lạnh lùng điên cuồng.

“Thơm không? Là dầu vừng hảo hạng... mua từ chỗ Tây Thi dầu vừng đấy”.

Nàng ta bật cười quỷ dị, rồi nghiêng tay, giá nến rơi vào tà áo y.

* * * * *

Mấy năm sau, nhắc lại trận hỏa hoạn hôm đó ở Song Phi trấn, người ta vẫn rùng mình.

Không chỉ vì thế lửa quá mạnh, lan ra nửa dãy phố mà lấy đi hai mạng người, lúc lửa tắt người ta tìm được trong nhà Chu Thái xác vợ gã bị thiêu thành một khúc củi đen thui bên bàn. Nữ tử hiền huệ này khổ sở đợi chồng suốt tám năm, sắp đến lúc lệnh đại xá ban ra sẽ được đoàn viên lại mất mạng vì hỏa tai.

Có người nói nguyên nhân hỏa hoạn ngoắt ngoéo, ông từ trông miếu ngoài trấn khẩu vào ban ngày từng gặp một đại hán áo xám từ xa đến hỏi địa chỉ nhà Chu Thái, đại hán này y phục rách rưới, mặt mũi đầy gió bụi, ánh mắt sắc lạnh, xem ra không phải người thật thà.

Cả hàng phố nháo nháo suốt đêm, ai nấy bận bịu dập lửa nên không nhận ra tiệm bán dầu vừng bên kia đường xảy ra chuyện gì. Đến ngày thứ ba không thấy tiểu quả phụ phong lưu Tôn Tiểu Liên uốn éo ra phố, mới có người định qua xem xét, vừa mở cửa ra, xộc vào mũi ngoài mùi dầu vừng còn có mùi máu tanh.

Trong phòng máu bắn tung tóe, người phá cửa tiến vào vắt chân lên cổ chạy mất, ngồi thụp xuống nôn thốc nôn tháo.

Trong một đêm xảy ra liền hai vị án mạng, người Song Phi trấn báo lên Lý thái thú nhưng điều tra mãi, ai cũng hoài nghi người áo xám xuất hiện trong trấn hôm đó. Nhất định do người lạ mặt đó gây ra. Thái thú phái nha dịch tìm hiểu một thời gian dài, không tìm ra chứng cứ, đành kết luận hung thủ đã trốn mất, hỏi han ông từ rồi vẽ hình, yết bảng truy nã.

“Hừ...” Ở cửa thành Kim Hoa phủ, một nữ nhân cầm bao hành trang, vung roi giục xe lừa đi ra, bất giác ngẩng nhìn bảng văn mỉm cười, nhưng nụ cười nhanh chóng tan biến.

“Dừng tay! Ngươi điên rồi! Chả trách... chả trách Chu Thái không cần ngươi, ai lại muốn nữ nhân như ngươi. Ngươi không phải là người, không phải là người. Ngươi điên rồi, ngươi là ác quỷ”.

Trong sát na hỏa cầu cháy sáng, nàng ta nghe thấy trong ánh lửa, tên hung thủ sát nhân nhìn mình, kiệt lực gào lên.

Nàng ta cúi xuống vuốt ve cây tử trúc phiến, một nan quạt đã bị bẻ gãy, nàng ta tỏ vẻ tiếc nuối, thở dài: “Ta điên rồi sao? Ta, ta bất quá đều muốn tốt cho tên tử quỷ đó. Vì hắn, chuyện gì ta cũng làm được, mà không giữ nổi hắn... ta thật sự điên rồi sao?”

Bàn tay nàng ta từ từ sờ lên mặt, nhẹ nhàng vuốt ve, từ khóe mắt nhỏ xuống một giọt lệ.

Cảnh nghèo nào bén mùi gấm lụa,

Gửi thân sai chốn cảm thương mình.

Dù gì nàng ta cũng thông minh hơn người, hiểu biết lễ nghĩa, nhưng vì gia thế bần hàn mới gả cho kẻ tầm thường như Chu Thái. Nàng ta chấp nhận số mệnh, nhưng gã là người chồng cực kỳ thô tục, dù dốc toàn bộ tâm lực vẫn không giữ nổi bên mình.

* * * * *

Sau đó xảy ra Tĩnh Khang chi loạn, đất nước nghiêng ngả, triều đình phải dời về nam... thế sự xoay vần, dâu bể.

Nàng ta đổi tên thay họ, giữa thời loạn, dù thông minh tài trí, đầu óc cẩn mật cũng thân bất do kỷ bị cuốn vào dòng hồng lưu của lịch sử, từng bước phiêu dạt.

Nàng ta từng phải nấp vào đống củi giữa hoang thôn trốn loạn binh, từng thấy những người cùng đào vong lần lượt mất mạng nơi quan đạo, lúc qua sông từng thấy thi thể trôi đầy... Với cái tên Đàm Ý Nương, nàng ta sống triền miên trong sợ hãi, không biết đến lúc nào trong thời thế binh hoang mã loạn này sẽ gục ngã ven đường.

Cho đến một ngày gặp được người nhà Tằng gia tị nạn trong một sơn động.

Ban đầu là người lưu lạc chiếu cố lẫn nhau, dần dần được người Tằng gia tiếp nhận, sau cùng gả cho con thứ Tằng gia Tằng Nguyên Sóc vốn mất thê tử bởi chiến loạn. Trong lúc loạn lạc, cũng không cần mai mối, vì nguyên do này mà đến giờ vẫn có người trong Tằng gia cho rằng nàng ta không danh chính ngôn thuận.

Sau khi xuôi nam, quốc gia dần ổn định, Tằng gia an cư tại Lâm An rồi liền mở lại nghề trồng hoa, Tằng lão phu nhân là vợ góa của tổng giám viện tử trong cung đình, nhất thân hoa nghệ xứng danh độc bộ thiên hạ, thế đạo vừa yên ổn, nghề trồng hoa cảnh liền hưng vượng.

Đàm Ý Nương vốn cũng là người trồng hoa sinh sống, trong nhà trừ mấy nam đinh, nàng ta cũng giúp rập đôi phần, dựa vào thông minh cùng công lao bỏ ra, mấy năm sau, đã học được kỹ nghệ trồng hoa của Tằng gia, nhờ loại mẫu đơn “kim trản xuất ngọc hoa” được Cao Tông hoàng đế tán dương mà ngẩng mặt với đời.

Nàng ta là nữ tử khéo cư xử, thông minh có thừa, long lanh mọi bề, dốc tận sức lực khiến danh tiếng Bách hoa Tằng gia đạt đến đỉnh cao, ngoài việc mỗi quý đại nội chỉ định Tằng gia tiến cống các loại hoa cỏ, những nhà giàu có trong thành Lâm An đều trở thành khách mua hoa. Tằng gia nhị phu nhân Đàm Ý Nương được coi là cái tên vang động khắp thành.

Tất cả nhờ bản lĩnh của nàng ta, dù xuất thân hèn kém nhưng dần phát đạt khiến cả Bách hoa Tằng gia không ai dám coi thường, kể cả Tằng Nguyên Sóc vốn ghét bỏ vợ, thường ra ngoài trêu hoa ghẹo nguyệt.

Người ngoài nhìn vào đều cho rằng làm con dâu của nhị phòng Tằng gia coi như nắm cả gia đình, Đàm Ý Nương phong quang khoái hoạt hơn ai hết, chỉ có ma ma bên cạnh mới biết đêm nào nàng ta cũng gặp ác mộng.

Xưa nay nào ai biết, từ khi sống trong nhung lụa, hai người từng bị nàng ta giết luôn xuất hiện trong mộng, máu me đầm đìa, liều mạng kéo nàng ta xuống vực sâu không đáy.

* * * * *

“Trong mắt phu nhân đọng lại nỗi sợ hãi”.

Trong hiệu hoa mang tên Hoa Kính, nghe bạch y nữ tử cơ hồ hiểu thấu mọi sự nói, thấy ngón tay nàng vương một hạt đỏ kỳ dị, bất chợt vẻ ngoài ngụy trang nhiều năm cùng nỗi sợ hãi dồn nén mất không chế, tử trúc phiến rời tay, Đàm Ý Nương thất thần hỏi Bạch Loa: “Cô sao lại biết... sao lại biết! Cô là yêu quái. Cô là yêu quái!”

“Xem ra phu nhân là người thông minh... nhưng vì hẹp hòi nhất thời mới gây ra việc như vậy”. Nghe tiếng Đàm Ý Nương khóc nức nở, giọng Bạch Loa đượm cảm thán: “Đố kỵ? Báo thù? Thật ra phu nhân vì cái gì? Tâm tư cẩn mật như thế lại dùng để giết người!”

“Cô muốn tố cáo tôi? Cô có chứng cứ gì?” Nàng ta kinh hãi nhìn bạch y thiếu nữ, đang lúc hoảng loạn nhưng đầu óc vẫn giữ được tỉnh táo, run giọng hỏi, dù gì sự tình đã qua quá lâu, không còn ai đối chứng nữa.

“Tôi không quản đến việc của người khác”. Bạch Loa ngẩng lên ngoắc tay, con bạch anh vũ bay tới đậu trên tay nàng, ánh mắt đen nhánh nhìn Đàm Ý Nương, “người chết cũng chết rồi, người sống đang chịu tội... việc lại qua quá lâu, cứ để nó vĩnh viễn vùi sâu”.

Đàm Ý Nương nhướng mắt, nhìn bạch y thiếu nữ với vẻ khó tin, ánh mắt Bạch Loa lạnh lùng nhưng trong đáy sâu ẩn ước hiện lên niềm thông cảm.

Nữ tử coi chồng là trời, lẽ nào trừ “trời”, trừ ái tình hôn nhân ra, họ không thấy gì khác nữa?

Nữ nhân nên có ước vọng... nhưng trên cõi đời, bao nhiêu lễ giáo, gông cùm ràng buộc, phảng phất cả đời họ bị xiềng xích vô hình thời thời khắc khắc ép buộc quên đi bản tính mà ngưỡng vọng “trời” của mình.

Bạch Loa thở dài, rồi ngẩng nhìn trời đất, biết mình không thể làm gì để xoay chuyển cả thế gian.

Từ khi Trạm Lô mang Hoa Kính đến cho nàng, ba trăm năm tu hành dưới trần thế dần phát huy diệu dụng, linh lực trên thiên giới quay lại với nàng, nhìn rõ được quá khứ vị lai của người khác, cũng thấy được sinh mệnh họ có trọng lượng thế nào. Cảm giác nặng nề hoặc thất bại đó là điều các vị chúa tể trên cõi Tây Thiên buộc nàng phải cảm thụ để răn dạy những kẻ chống lại mệnh trời như nàng: họ căn bản không có năng lực đó.

Nhưng muốn nàng cúi đầu, dù phải trải qua vạn kiếp nữa cũng không thể.

Đàm Ý Nương ra khỏi cửa, cảm giác ánh dương quang ngời ngời chói chang, dưới chân như đang bước trên lớp bông mềm nhũn, không mảy may có khí lực, cây tử trúc phiến trong ngực áo nặng cả ngàn cân. Nàng ta vịn vào tường thất thểu cất bước, ánh mắt hư nhược xen lẫn hoảng sợ cực độ.

Yêu quái... nữ tử đó là yêu quái vạn sự thông! Ngay cả bí mật riêng chôn sâu trong lòng cũng không giấu được.

Quyết không thể để nữ tử đó bước chân vào Tằng gia, nếu việc này bị người nhà chồng phát giác ắt bản thân sẽ vạn kiếp bất phục. Việc này nên vĩnh viễn chôn vùi.

Nàng ta vịn vào tường thở dốc, ánh mắt chợt sáng lên hung hãn.

Cũng như cái đêm hơn mười năm trước, nàng quyết định giết Ngụy Thắng và Tôn Tiểu Liên.

---------

Trúc là một loại thực vật nhưng so với các loại thảo mộc khác lại không giống về màu sắc, hình dáng. Tử trúc có ở núi Phổ Đà miền Nam Hải, thân nhỏ màu tím sẫm, ống dùng làm ống sáo, đốt có màu vàng.

[1]: con trưởng.

[2]: phương ngôn chỉ một loại gió lạnh thấu xương, gây hại lớn cho người dân vùng thảo nguyên vào mùa đông.